Sản phẩm cấu trúc và thị trường phát triển sản phẩm cấu trúc tại Việt Nam (Phần cuối)

3.5. Trái phiếu liên kết rủi ro tín dụng (Credit-linked note)

Trái phiếu liên kết rủi ro tín dụng là sự kết hợp giữa một trái phiếu doanh nghiệp thông thường và một hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng (Credit Default Swap – CDS).

Như chúng ta đã biết, CDS bản chất là một loại hợp đồng phái sinh tín dụng, cho phép bên mua bảo hiểm được thanh toán phần thiệt hại trong trường hợp xảy ra sự kiện tín dụng (credit event) đối với tài sản tham chiếu mà 2 bên thỏa thuận trong hợp đồng.

cds

Định kỳ, bên mua sẽ thanh toán một khoản phí cho bên bán (gọi là CDS spread hay Premium).

Đến kỳ đáo hạn:

–    Nếu không có sự kiện tín dụng xảy ra, bên bán sẽ không có nghĩa vụ thanh toán gì đối với bên mua.

–     Nếu sự kiện tín dụng xảy ra, hợp đồng hoán đổi sẽ chấm dứt và bên bán phải thanh toán một khoản tiền bảo hiểm rủi ro cho bên mua. Có hai kiểu thanh toán:

+   bằng tiền mặt: Bên bán sẽ thanh toán cho bên mua một khoản tiền bồi thường bằng số tiền gốc trừ đi giá trị thu hồi. Giá trị thu hồi ở đây là giá trị thị trường của tài sản tham chiếu

in cash

+   bằng hình thức chuyển giao tài sản: bên mua chuyển giao tài sản tham chiếu cho bên bán để đổi lấy khoản tiền tương đương số tiền gốc của tài sản.

in physical

Vậy cơ chế hoạt động của trái phiếu liên kết rủi ro tín dung (CLN) là như thế nào?

directed CLN

Nhìn sơ đồ ta thấy:

Ngân hàng cho vay doanh nghiệp và ký một hợp đồng CDS với một bên mua bảo vệ cho khoản cho vay doanh nghiệp. Theo đó, ngân hàng nhận một khoản thanh toán định kỳ từ Bên mua bảo vệ.

Đồng thời, ngân hàng phát hành trái phiếu liên kết rủi ro tín dụng. Nhà đầu tư sẽ trả tiền cho Ngân hàng để mua trái phiếu. Ngân hàng trả nhà đầu tư tiền lãi định kỳ cho đến khi đáo hạn. Khác với trường hợp của CDS ở trên thì bây giờ bên bán bán vệ có một khoản tiền gốc huy động được từ nhà đầu tư. Đó là lý do tại sao CLN còn được gọi là “funded CDS”.

–    Nếu không có sự kiện tín dụng nào xảy ra: nhà đầu tư sẽ nhận lại được khoản tiền gốc vào thời điểm đáo hạn của trái phiếu.

–    Nếu có sự kiện tín dụng xảy ra: ngân hàng sẽ trả cho bên mua bảo hiểm khoản tiền gốc bằng tiền mặt và nhận tài sản tham chiếu. Nhà đầu tư sẽ chỉ nhận được giá trị thu hồi của tài sản tham chiếu (tiền gốc trừ đi tổn thất rủi ro tín dụng).

Lợi ích của các bên tham gia vào giao dịch trái phiếu liên kết rủi ro tín dụng là gì?

* Đối với nhà đầu tư:

–    Được hưởng lợi suất cao hơn so với các trái phiếu cùng kỳ hạn thông thường

–    Hấp dẫn các nhà đầu tư như các quỹ đầu cơ, công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí,…do những loại hình công ty này bị giới hạn đầu tư vào các sản phẩm phái sinh tín dụng

–    Có nhiều sự lựa chọn sản phẩm với các mức lãi suất, kỳ hạn,…khác nhau tùy vào nhu cầu của nhà đầu tư

* Đối với tổ chức phát hành:

–    Giảm chi phí huy động vốn

–    Được bảo đảm 100% vốn, do vừa là bên bán bảo vệ nhưng lại là bên mua bảo vệ từ nhà đầu tư. Nếu sự kiện tín dụng xảy ra, tổ chức phát hành kiểm soát được dòng tiền và không bị ảnh hưởng bởi sự kiện tín dụng này do rủi ro đã được chuyển giao sang nhà đầu tư

Trái phiếu này thường được sử dụng trong mô hình phát hành chứng khoán hóa tổng hợp.

CLN

Chứng khoán hóa có lịch sử phát triển từ năm 1977 tại Mỹ, song thực sự phát triển mạnh từ thập kỷ 90. Các nhà đầu tư mua chứng khoán nợ chấp nhận rủi ro liên quan tới danh mục tài sản đảm bảo được đem ra chứng khoán hóa. Như vậy, người cho vay không nhất thiết phải nắm giữ rủi ro tín dụng mà có thể chuyển hóa sang cho người khác một cách dễ dàng thông qua việc phát hành chứng khoán nợ lấy danh mục tín dụng làm tài sản đảm bảo. Thông thường, danh mục tín dụng được bán sang cho một công ty có mục đích đặc biệt  do ngân hàng lập lên và công ty này phát hành chứng khoán nợ cho nhà đầu tư. Trái phiếu được phân ra thành nhiều gói (tranche) được định mức tín nhiệm với các hệ số khác nhau, có mức độ rủi ro khác nhau và cuống lãi suất khác nhau. Các nhà đầu tư có rất nhiều sự lựa chọn gói trái phiếu hình thành từ chứng khoán hóa tùy theo sở thích rủi ro của mình.

Ngân hàng A có một danh mục tài sản tín dụng. Ngân hàng thực hiện bán rủi ro tín dụng sang cho một công ty có mục đích đặc biệt (Special Purpose Vehicle – SPV) bằng một hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng. Qua đó, ngân hàng sẽ thanh toán cho SPV (Bên bán bảo vệ) một khoản phí bảo hiểm cố định định kỳ.

SPV mua rủi ro tín dụng của ngân hàng và chuyển giao rủi ro này cho nhà đầu tư bằng cách phát hành trái phiếu liên kết rủi ro tín dung (CLN). Sau đó, công ty này dùng tiền thu được từ phát hành trái phiếu và phí bán bảo hiểm rủi ro tín dụng để đầu tư vào các tài sản có ít rủi ro hơn như trái phiếu chính phủ.

Như vây, về bản chất, nhà đầu tư mua trái phiếu thông thường cộng với việc mua rủi ro tín dụng của một tài sản tham chiếu, do đó nhận được lãi trái phiếu kết hợp với một khoản phí bảo hiểm rủi ro tín dụng từ việc bán bảo hiểm rủi ro rín dụng.

Trong thời hạn trái phiếu, nếu không xảy ra sự kiện tín dụng nào thì nhà đầu tư sẽ được hoàn trả toàn bộ số tiền gốc tại thời điểm đáo hạn trái phiếu. Nhưng nếu có sự kiện tín dụng xảy ra, nhà đầu tư sẽ không nhận được toàn bộ số tiền gốc của trái phiếu, mà chỉ nhận được số tiền gốc trừ đi tổn thất rủi ro tín dụng của gốc tài sản tham chiếu.

Áp dụng tại Việt Nam

Trái phiếu liên kết rủi ro tín dụng được sử dụng nhiều ở các nước phát triển. Đây cũng là công cụ để chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của các ngân hàng thương mại thông qua các công ty có mục đích đặc biệt (SPV).

Ở Việt Nam, trái phiếu liên kết rủi ro tín dụng chưa phát triển. Nguyên nhân là chưa có tổ chức định mức tín nhiệm có uy tín để định giá danh mục tài sản có rủi ro tín nhiệm, quy định pháp lý để cho các công ty mua bán nợ phát hành trái phiếu liên kết rủi ro tín dụng còn thiếu cơ sở và thị trường mua bán nợ chưa thực sự phát triển. Trong thời gian tới, với sự phát triển của thị trường tài chính nói chung và thị trường mua bán nợ nói riêng, trái phiếu liên kết rủi ro tín dụng sẽ có cơ hội phát triển tại thị trường Việt Nam.

KẾT LUẬN

Sự tham gia vào WTO, mở cửa ngành tài chính và xu hướng hội nhập mạnh mẽ, cùng nền kinh tế đang trên đà phát triển, nhu cầu vốn lớn của các doanh nghiệp để sản xuất, đầu tư là tiền đề cơ bản để thị trường vốn Việt Nam phát triển, đồng thời là mảng thị trường hấp dẫn cho các nhà đầu tư trong nước và quốc tế. Và theo đó, các sản phẩm tài chính mới như các sản phẩm cấu trúc với các tính năng và lợi ích lớn đem lại cho nhà đầu tư sẽ được áp dụng rộng rãi.

Để thị trường sản phẩm cấu trúc phát triển, Việt Nam cần hoàn thiện hơn nữa các cơ sở pháp lý, văn bản pháp luật có liên quan đến sự phát triển của thị trường vốn, hình thành các tổ chức đánh giá tín nhiệm doanh nghiệp có uy tín, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong ngành tài chính, nâng cao vai trò của tư vấn tài chính, tăng cường tính chuyên nghiệp và phát triển bền vững của thị trường.

Một phản hồi to “Sản phẩm cấu trúc và thị trường phát triển sản phẩm cấu trúc tại Việt Nam (Phần cuối)”

  1. Nguyen Manh Hai Says:

    Cảm ơn tác giả! Nói về CLN ở Việt Nam thì có thể nhắc đến thời điểm cuối 2008 khi lợi suất Trái phiếu quốc tế (USD) của Chính phủ Việt Nam lên tới 12 – 14% trong khi lãi suất cho vay USD trong nước chỉ khoảng 7%. Khi đó, rất nhiều ngân hàng, quỹ đầu tư ở Việt Nam muốn mua Trái phiếu này nhưng lại bị một số giới hạn. Vì thế, một số ngân hàng nước ngoài đã cơ cấu sản phẩm CLN dựa trên Trái phiếu quốc tế của Chính phủ Việt Nam để có thể bán cho các nhà đầu tư trong nước🙂

    Hiện nay, ở Việt Nam, việc mua bán nợ (có rủi ro tín dụng cao) cũng đã diễn ra nhiều nhưng ít khi được thực hiện dưới hình thức sản phẩm cấu trúc. Hy vọng là dần dần các sản phẩm cấu trúc liên kết rủi ro tín dụng sẽ phát triển hơn.


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: