Nợ xấu ngân hàng và 1 số giải pháp

Tình hình thua lỗ và nợ xấu của doanh nghiệp gần đây đang gia tăng

Tình trạng doanh nghiệp làm ăn thua lỗ diễn ra khá phổ biến. Cụ thể, tại khối các DNNN, EVN dự kiến 8 tháng đầu năm lỗ khoảng 11.700 tỷ đồng, Vinashin dự kiến hơn 3.000 tỷ đồng và Vinalines lỗ khoảng 613 tỷ đồng. Ngoài ra, với việc thắt chặt tiền tệ, tài khóa từ đầu năm, lãi suất ngân hàng được đẩy lên mức khá cao khiến các doanh nghiệp đều gặp tình trạng chung là thiếu vốn, kinh doanh thua lỗ, buộc phải thu hẹp sản xuất kinh doanh hoặc giải thể, phá sản. Theo thống kê mới đây của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số lượng doanh nghiệp giải thể, phá sản 9 tháng đầu năm lên tới 4,7 nghìn doanh nghiệp.

Kinh doanh thua lỗ khiến nhiều khoản nợ của doanh nghiệp biến thành nợ xấu. Bộ Tài chính mới đây đã nhận được đề nghị từ Bộ Xây dựng hỗ trợ Công ty xi măng Đồng Bành thuộc Tập đoàn Sông Đà khoản nợ gốc và lãi 141 tỷ đồng với nước ngoài. Bộ Công thương cũng liên tục nhắc nhở EVN thu xếp trả khoản nợ khoảng 10.000 tỷ đồng tiền mua điện từ các đơn vị thành viên của TKV và Petro Việt Nam. Ngoài ra, Vinashin là một trong những điển hình về nợ xấu trong nhóm doanh nghiệp Nhà nước với khoản nợ sau khi được kiểm toán bởi KPMG vào giữa năm 2010 lên tới khoảng 86.000 nghìn tỷ đồng. Cuối năm 2010, Thống đốc NHNN khi đó là ông Nguyễn Văn Giàu cho biết, dư nợ của Vinashin với toàn bộ hệ thống ngân hàng ước khoảng 26.000 tỷ đồng, trong đó có 16.000 tỷ đồng sẽ được cơ cấu lại. Thống đốc cũng cho biết tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng trong năm 2010 là 2,5% và nếu tính thêm nợ của Vinashin sẽ tăng thêm 0,7%, đưa tỷ lệ nợ xấu chung của toàn hệ thống lên tới 3,2%.

Bên cạnh khối doanh nghiệp Nhà nước, thời gian gần đây cũng nổi lên thông tin về nợ xấu của một số doanh nghiệp như Trường Phong (nợ NH Đông Á 99 tỷ đồng), An Khang (nợ 5 ngân hàng 500 tỷ đồng, trong đó riêng khoản nợ với Vietinbank là 146 tỷ đồng),… Cùng với số lượng lớn các doanh nghiệp giải thể trong năm nay do làm ăn thua lỗ, những khoản nợ xấu đối với ngân hàng cũng tăng lên tương ứng.

Tại khối FDI, theo thông kê của cơ quan chức năng hiện có 22 dự án của doanh nghiệp FDI không có khả năng trả nợ ngân hàng với tổng nợ khoảng 80 triệu USD ( tương đương 1.600 tỷ đồng). Những khoản nợ này hầu hết đều không có khả năng thu hồi do chủ đầu tư bỏ trốn, trong đó riêng với Kenmark, BIDV, SHB và Habubank cho vay tới 50 triệu USD (khoảng 1.000 tỷ đồng). Đặc biệt, có những chủ đầu tư chỉ xin giấy chứng nhận đầu tư để vay vốn sau đó rút về nước, nhằm chiếm dụng vốn ngân hàng. Theo đó, những khoản nợ này đều trở thành nợ xấu, đè nặng lên hệ thống ngân hàng.

Nợ xấu ngân hàng cũng đáng báo động

Báo cáo của Đảng ủy Khối doanh nghiệp Trung ương ngày 08/09 vừa qua cho thấy nợ khó đòi, nợ nguy cơ cao và nợ không có khả năng thu hồi đang gia tăng đặc biệt trong nhóm các ngân hàng Quốc doanh, tỷ lệ nợ xấu của Vietcombank là 3,47%, Agribank 6,67%. Đặc biệt, có thông tin cho rằng nợ xấu của Agribank cho Vinashin khoảng 17.000 tỷ đồng, nợ xấu tại 2 công ty cho thuê tài chính của Agribank tương ứng khoảng 5-7 nghìn tỷ và 3-5 nghìn tỷ, điều này đồng nghĩa với việc nợ xấu của ngân hàng này đã lớn hơn cả vốn điều lệ.

Bên cạnh đó, TS Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch ủy ban giám sát tài chính quốc gia cũng cho biết, nợ xấu của hệ thống ngân hàng tính đến tháng 6/2011 khoảng 75.000 tỷ đồng, tăng 50% so với cùng kỳ 2010, trong đó nợ có khả năng mất vốn chiếm 47% tổng nợ xấu và chủ yếu là nợ trong lĩnh vực bất động sản.

Những ảnh hưởng của nợ xấu gia tăng tới hệ thống ngân hàng

Nguy cơ nợ xấu là vấn đề đã khá rõ ràng khi từ nay đến cuối năm, những nỗ lực trả lãi vay sẽ tiếp tục bao mòn khả năng tài chính của doanh nghiệp, nhiều khoản nợ sẽ tiếp tục được xếp vào loại nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu sẽ còn tiếp tục tăng.

+ Gia tăng dự phòng rủi ro: Việc gia tăng nợ xấu sẽ kéo theo việc ngân hàng phải tăng cường trích lập dự phòng rủi ro cho các khoản nợ này. Đặc biệt, khi có thêm nhiều thông tin về tình hình kinh tế vĩ mô, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chuyển biến tiêu cực, những khoản nợ mới đến hạn nhưng doanh nghiệp không có khả năng trả nợ khiến nợ xấu gia tăng và có xu hướng phải di chuyển lên các nhóm nợ cao hơn, đồng nghĩa với việc ngân hàng sẽ phải trích lập dự phòng nhiều hơn.

+ Giảm tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu: Rủi ro nợ xấu liên quan trực tiếp tới chỉ tiêu lợi nhuận của ngân hàng. Thực tế, khi lập kế hoạch lợi nhuận năm 2011, do đánh giá được tình hình kinh tế vĩ mô sẽ không khả quan nên các ngân hàng không đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận quá cao so với năm 2010. Tuy nhiên, với tỷ lệ nợ xấu tăng mạnh, việc trích lập dự phòng khiến lợi nhuận của ngân hàng bị suy giảm. Bên cạnh đó, không phải ngân hàng nào cũng công bố con số nợ xấu thực tế của đơn vị mình, nợ xấu tiềm ẩn của ngân hàng Việt Nam được đánh giá là khá lớn so với con số công bố. Theo đó, số liệu tuyệt đối về lợi nhuận có thể tăng nhưng tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu tại 1 số ngân hàng chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng.

+Rủi ro thanh khoản, kỳ hạn, rủi ro đổ vỡ hệ thống gia tăng: Tính đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa có thêm thông tin cụ thể về việc nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam đang ở mức nào. Tuy nhiên, tôi cho rằng xu hướng gia tăng nợ xấu cũng như tỷ lệ nợ xấu thực tế lớn hơn đáng kể so với những con số công bố là điều có thực. Theo đó, nợ xấu sẽ kéo theo rủi ro vỡ thanh khoản, vỡ cơ cấu kỳ hạn của ngân hàng trong trường hợp không thu hồi được nợ. Ngoài ra, những ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao cũng sẽ bị ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín và danh tiếng, đồng thời, khi những ngân hàng này gặp khó khăn nhất định thì khả năng xảy ra đổ vỡ cũng cao hơn những ngân hàng khác. Do những mối liên hệ trên thị trường tài chính nói chung và thị trường vay mượn tiền giữa các ngân hàng nói riêng, khi bất kỳ một ngân hàng nào gặp những rủi ro trên cũng đều có thể ảnh hưởng tới cả hệ thống.

Những giải pháp trong quá khứ

Trước đây, các ngân hàng đã sử dụng khá nhiều biện pháp truyền thống để xử lý nợ xấu như cho vay đảo nợ, kéo dài thời hạn trả nợ, giảm nợ, bán nợ cho các công ty chuyên mua bán nợ, hoặc xóa nợ với những khoản nợ không thể thu hồi.

Những năm gần đây, các AMC liên tiếp ra đời cũng để nhằm mục đích giúp ngân hàng có một bộ phận riêng chuyên xử lý nợ xấu. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của các AMC không giống nhau giữa các ngân hàng.

Một số giải pháp cho hiện tại

+ Siết chặt thẩm định, lựa chọn khách hàng vay vốn: Một giải pháp để giảm thiểu tỷ lệ nợ xấu là siết chặt việc thẩm định, lựa chọn khách hàng vay vốn mới, tăng cường giải ngân tín dụng vào các lĩnh vực như nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu và sản xuất – kinh doanh. Một mặt, các khách hàng trong lĩnh vực này sẽ không chấp nhận mức lãi suất cho vay quá cao, song giải ngân vào lĩnh vực này được cho là ít rủi ro, ít nợ xấu hơn so với các lĩnh vực như bất động sản, chứng khoán,… Mặt khác, room tín dụng của cả hệ thống hiện vẫn còn khá lớn, theo đó, ngân hàng cần nỗ lực hơn nữa trong việc giảm dần mặt bằng lãi suất cho vay về mức chấp nhận được của doanh nghiệp, đồng thời tăng cường tái cơ cấu tín dụng giải ngân vào các lĩnh vực an toàn hơn để giảm thiểu tỷ lệ nợ xấu. Theo tôi, đây là một trong những biện pháp hạ tỷ lệ nợ xấu khá bền vững.

+ Tuân thủ quy định, điều kiện cho vay với DNNN: Riêng đối với nhóm nợ xấu đến từ các DNNN, tôi cho rằng một phần do cơ chế nên hầu hết các DNNN đều khá dễ dàng khi vay vốn tại các ngân hàng Quốc doanh. Lỏng lẻo trong thẩm định điều kiện vay vốn, phương án vay vốn chính là nguyên nhân khiến nợ xấu khi cho vay DNNN chiếm tỷ lệ không nhỏ trong nợ xấu của các ngân hàng này. Giải pháp bền vững là phải thay đổi cơ chế cho vay, DNNN cũng như ngân hàng đều cần phải tuân thủ quy định, quy trình thẩm định và hạn mức vay vốn như khi cho vay các khách hàng khác.

+ Đảo nợ, giãn/hoãn/giảm nợ: Các biện pháp truyền thống như cho vay đảo nợ, giãn/hoãn/giảm nợ cũng mang lại tác dụng trong việc giúp ngân hàng nhanh chóng hạ tỷ lệ nợ xấu xuống mức thấp hơn. Tôi cho rằng, với việc các ngân hàng liên tiếp đưa ra các cam kết về gói lãi suất thấp trong thời gian gần đây, làn sóng đảo nợ sẽ diễn ra khá sôi động. Mặc dù không phải là biện pháp hạ tỷ lệ nợ xấu bền vững, nhưng việc đảo nợ sẽ giúp doanh nghiệp có nhiều thời gian hơn để chuẩn bị nguồn tài chính trả nợ đồng thời ngân hàng cũng có cơ hội hạn chế đáng kể việc gia tăng tỷ lệ nợ xấu.

16 phản hồi to “Nợ xấu ngân hàng và 1 số giải pháp”

  1. Nguyen Manh Hai Says:

    Cảm ơn bài viết của tác giả! Mình đồng ý với các ý gia tăng dự phòng rủi ro, cũng như giảm tỷ suất lợi nhuận. Chỉ riêng ý “Rủi ro thanh khoản, kỳ hạn, rủi ro đổ vỡ hệ thống gia tăng” thì mình cũng đồng ý nhưng muốn chia sẻ thêm quan điểm của mình.

    Về cơ bản, rủi ro tín dụng của khoản vay và rủi ro thanh khoản của một ngân hàng là hai khái niệm tuy có liên quan nhưng không phải là quan hệ trực tiếp và theo quy luật nhân – quả. Vì thế mới có 2 phòng: quản lý rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng riêng🙂 Nhiều khi có thể mất thanh khoản dù không có nợ xấu. Nhiều khi nợ xấu cao nhưng lợi nhuận hoàn toàn có đủ để bù đắp xóa nợ, chưa kể là luân chuyển dòng tiền vẫn tốt – huy động vẫn đảm bảo thì không thể ảnh hưởng ngay lập tức đến thanh khoản được. Thêm vào đó, đa số nợ xấu đều có tài sản thế chấp, và mức độ thu hồi sẽ phụ thuộc vào hiệu quả của việc xử lý tài sản thế chấp.

    Muốn đánh giá chính xác tác động của nợ xấu đến thanh khoản, mình nghĩ cần phải có các số liệu chi tiết và đầy đủ hơn; cũng như phải gắn với các chính sách về thanh khoản khác của NHNN và của từng ngân hàng. Ngay cả Moody’s và các tổ chức quốc tế khi nhận định về các NH ở Việt Nam cũng nói rằng nợ xấu thực tế có thể lên tới 10 – 15%, nhưng cũng chỉ kết luận rằng như vậy lợi nhuận ngành ngân hàng là không thể cao như báo cáo được, chứ cũng không khẳng định rằng việc đó có tác động trực tiếp khiến rủi ro thanh khoản gia tăng. Họ cho rằng rủi ro thanh khoản ở Việt Nam chủ yếu do mất cân đối kỳ hạn giữa huy động và cho vay, cũng như thói quen gửi tiền của người dân và tăng trưởng tín dụng quá nóng – nhưng giờ đã bị trần rồi.

  2. Long DT Says:

    Em cũng đồng ý với ý kiến của chị Vân rằng nên chuyển dịch xu hướng cho vay về những lĩnh vực ít rủi ro hơn. Nhưng theo em thì thực tế thị trường ngân hàng của VN giờ có quá nhiều ngân hàng cạnh tranh rất gay gắt nên việc tìm kiếm khách hàng cũng rất khó. Ở cấp ngân hàng thì muốn chỉ tiêu tăng trưởng còn nhân viên tín dụng thì phải chịu áp lực doanh số nên cũng khó cho ngân hàng và nhân viên trong việc chuyển dịch cơ cấu cho vay. Theo em thì các ngân hàng cần tìm ra các sản phẩm mang tính đột phá hơn và hướng tới các một thị trường đang bắt đầu phát triển – ví dụ như thị trường bán lẻ. Ngoài ra, các ngân hàng cũng nên diversify thu nhập của mình sang các lĩnh vực dịch vụ nhằm tránh phụ thuộc quá nhiều vào thu nhập từ tín dụng.

  3. Võ Văn Minh Says:

    + “Đảo nợ, giãn/hoãn/giảm nợ: …”
    Mình không nghĩ đây là giải pháp mà chính xác hơn đây là biện pháp cực chẳng đã. Chẳng ai coi việc đảo/giãn/hoãn/giảm nợ là giải pháp trị vấn đề nợ xấu cả. Trong giai đoạn hiện nay, mình biết các ngân hàng còn nhiều biện pháp kỹ thuật khác, kiểu như trích vào ngoại bảng, để che dấu nợ xấu. Nên con số nợ xấu thực sự của hệ thống ngân hàng nói chung thì khó mà biết chính xác được.
    Giải pháp xử lý tốt nhất hiện nay có lẽ là cho tranh/kiểm tra đến cùng, cho phép các bank lớn như agri, vietinbank quyết liệt xử lý nợ xấu để mark được cái tài sản của các bank khác. Lúc đó nợ xấu nó mới lòi ra, và chuyện M&A mới thành hiện thực được. Hiện nay có lẽ các bank nhỏ đều đang ngồi trên lửa hết…

  4. Bùi Quỳnh Vân Says:

    @ anh Mạnh Hải: em rất cảm ơn ý kiến nhận xét rất chính xác của anh ạ. Đúng là có sự phân biệt giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng. Trong điều kiện bình thường, thanh khoản của NH sẽ không/ít chịu ảnh hưởng bởi khoản nợ xấu nói trên bởi đã có sẵn nguồn bù đắp từ dự phòng.
    Mức độ nợ xấu thực sự như thế nào thì có lẽ ít người nắm được, nhưng theo như dẫn chứng của anh, nợ xấu thực tế khoảng 10-15% tổng tín dụng, mức tăng tổng tín dụng 9 tháng đầu năm ước khoảng 196,5 nghìn tỷ đồng, ứng với nợ xấu cần trích lập dự phòng khoảng 19,6-29,4 nghìn tỷ đồng. Tuy nhiên, không phải khoản nợ xấu nào cũng cần trích đủ 100%, song tỷ lệ nợ nhóm 5 đang được cho là ở mức khá lớn do có quá nhiều DN phá sản, giải thể, thu hẹp sx, cố tình trì hoãn trả nợ, hơn nữa, còn nhiều khoản nợ xấu vẫn chưa lộ diện.
    Mặt khác, cùng với việc tiền gửi đang có xu hướng chảy ra khỏi NH, thời điểm cuối năm DN sẽ rút tiền mạnh để đổ vào sx-kd hàng Tết, thêm vào đó, áp lực trích dự phòng nợ xấu vào các tháng tới đang gia tăng khiến lượng tiền phải đóng gói cất vào kho khá lớn, nên em nghĩ việc trích dự phòng nợ xấu và xử lý nợ xấu sẽ mang những ảnh hưởng đủ lớn đến thanh khoản của NH.
    Một ý nữa là khi nợ xấu tăng cao, NH thu hồi nợ chậm trễ hoặc không thu hồi được nợ, phải sau 1 khoảng thời gian nhất định mới được phép sử dụng đến quỹ dự phòng, theo đó vẫn có thể tác động đến kế hoạch luân chuyển dòng tiền trong NH, cũng là 1 khía cạnh ảnh hưởng đến thanh khoản.

  5. Bùi Quỳnh Vân Says:

    @Long DT: totally agree with you!🙂 song hiện tại tín dụng vẫn là nguồn thu chủ yếu của các NH VN.
    các NH nội đang tạm chia thành 3 nhóm:
    – nhóm quốc doanh (Agri, BIDV, vietcom, vietin): sống chủ yếu nhờ vào doanh thu từ tín dụng (70-80%), tỷ lệ doanh thu dịch vụ của nhóm này thời gian gần đây có tăng nhưng rất chậm. Căn bản là vì hệ thống lớn quá, đổi mới chậm.
    – nhóm TMCP top trên (ACB, Exim, Tech, MB,…nhóm này thường có cổ đông lớn nước ngoài): nhóm này có lợi thế lớn nhờ tiếp thu công nghệ quản lý, quản trị rủi ro và kỹ thuật nước ngoài nên mảng bán lẻ và các dịch vụ mới phát triển khá mạnh. Song việc sử dụng dịch vụ NH có thu phí vẫn dạng “đang phát triển” nên doanh thu từ tín dụng vẫn chiếm tỷ lệ khá lớn tại nhóm này.
    -nhóm TMCP top dưới (NH có vốn nhỏ, tổng tài sản nhỏ, và lợi nhuận cũng nhỏ :-)): quy mô nhỏ nên nhóm này khá linh hoạt trong việc phát triển sản phẩm dịch vụ, khi 1 NH phát triển 1 sp mới nào đó thì hầu như các NH khác đều có thể nhanh chóng đưa ra sp cùng loại hoặc tương tự như thế. Song với quy mô nhỏ, lượng KH cũng khá ít nên doanh thu tín dụng vẫn chiếm chủ yếu trong cơ cấu thu nhập.
    Tóm lại là ai cũng muốn diversify thu nhập, nhưng mỗi người đều có lý do riêng, chắc khi nào GDP đầu người của VN lên khoảng 3.500 USD/năm thì mới hy vọng có ngân hàng sống chủ yếu nhờ dịch vụ được, hehe!

  6. Bùi Quỳnh Vân Says:

    @ Võ Văn Minh: thế nên mình mới nói rằng đảo nợ, giãn/hoãn/giảm nợ không phải là 1 biện pháp bền vững, những nó vẫn là 1 trong những technic được các ngân hàng sử dụng phổ biến. Sau vụ giảm tỷ lệ cho vay phi sản xuất xuống mức 22% với deadline 30/06/2011 vừa rồi, chắc bạn cũng biết được không ít cách mà NH sử dụng để hô biến các tỷ lệ.
    Kiểm tra nợ xấu không đơn giản, việc tái cấp vốn chính là mang bộ hồ sơ tín dụng rất tốt của NH đi vay tiền SBV, nhưng mà SBV thẩm định cái này chậm lắm (thủ công mà). Nên với việc thanh, kiểm tra toàn bộ hệ thống thì chắc SBV không đủ nhân lực mà làm.
    Việc thanh tra/kiểm tra mình nghĩ là không khả thi với Agribank, vì như mình đã đề cập ở trên, bank này có nợ xấu đã vượt quá vốn điều lệ rồi, bank này cũng là đầu tàu cho vay nông nghiệp ở VN, nên nếu kiên quyết xử lý nợ xấu ở Agribank thì ảnh hưởng ko tính được, còn Vietin thì họ công khai nợ xấu và cũng đang tự xử lý rồi mà.
    Nhưng cái vụ M&A mà bạn nói thì mình nghĩ là hoàn toàn có khả năng xảy ra, chỉ cần NH nào bị điều tra ra tỷ lệ nợ xấu trên 10% hoặc mất thanh khoản và chấp nhận vay tiền tái cấp vốn từ SBV, NH đó lập tức nằm dưới quyền kiểm soát của SBV, SBV có thể chuyển vốn này thành phần vốn góp vào NH (luật NHNN cho phép điều này). Với vai trò là (đồng) chủ sở hữu của 1 vài NH, M&A là điều nằm trong ý muốn! Ngoài ra thì 1 số NH cũng có thể tự nguyện M&A với nhau, nếu có thể tìm được giải pháp dung hòa lợi ích của từng bên, nhưng cái này khó lắm.

  7. Bùi Quỳnh Vân Says:

    Updt:
    Tối qua mới nghe VTV nói là nợ của EVN với PetroVN đã lên đến 10.100 tỷ rồi (tính đến T8 thì khoản nợ này mới ở mức hơn 8.000 tỷ)
    Ngoài ra, bài này có nói về nguyên nhân tăng nợ xấu là do tăng trưởng tín dụng quá nóng để đáp ứng tỷ suất lợi nhuận khi tăng vốn chủ sở hữu. http://vietstock.vn/ChannelID/757/Tin-tuc/202882-giai-phap-doi-voi-no-xau.aspx .
    Tăng vốn NH là nhằm tăng cường sức mạnh tài chính của toàn hệ thống, thế nhưng hệ quả của nó lại là sự gia tăng nợ xấu. Điều này có thể cho rằng việc áp dụng tăng vốn bắt buộc, cào bằng với NH là quá cứng nhắc?
    2 biện pháp đưa ra nhằm giảm nợ xấu gồm siết chặt quản trị rủi ro đạo đức (giống cái giải pháp T2 của mềnh) và rủi ro hệ thống. Mình nghĩ rằng biện pháp quản trị rủi ro hệ thống là 1 biện pháp tổng quát hơn so với ý tưởng về việc hướng dòng tín dụng giải ngân vào lĩnh vực an toàn hơn mà mình đã trình bày.

  8. Bùi Quỳnh Vân Says:

    Nợ tiềm ẩn
    http://vietstock.vn/ChannelID/830/Tin-tuc/203067-nghi-an-lua-dao-hang-nghin-ty-dong-tren-thi-truong-otc.aspx
    http://www.danviet.vn/60190p1c33/bat-tam-giam-mot-pho-tong-giam-doc-lua-dao.htm
    Đọc bài này thì thấy nợ tiềm ẩn đã bắt đầu lộ diện, mà chủ yếu là những khoản nợ không có khả năng thu hồi.
    Với các CTCK, khi gặp phải khách hàng chậm nộp tiền, và sử dụng đòn bẩy tài chính lớn, việc thanh lý danh mục cũng không bù đắp nổi thiệt hại. Tổng nợ xấu do NH cho công ty CK vay có thể lên tới hàng nghìn tỷ đồng.
    Vụ công ty Công Chính cũng vậy, thêm gần 1.000 tỷ đồng nợ xấu lộ diện, ngành NH đang đối mặt với phần chìm của tảng băng. Từ này đến cuối năm, lợi nhuận của NH sẽ còn bị bào mòn bởi vấn đề này, tín dụng cũng sẽ ì ạch do NH tập trung cơ cấu lại nợ.

  9. Đ. Hải Says:

    Sau 8 tháng thắt chặt tiền tệ, số vụ vỡ nợ với giá trị lớn trên mặt báo tăng lên hàng ngày.
    Có câu nói, anh mất 1 tỷ là vấn đề của anh, nhưng anh mất 100 tỷ thì là vấn đề của Ngân hàng !
    Vỡ nợ của DN chắc chắn sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng tín dụng NH.
    Có lẽ vì lý do nợ xấu thực chất trong nền kinh tế quá lớn mà NHNN phải nhanh tróng chuyển hướng CSTT từ thắt chặt sang nới lỏng, phải giảm LS thật nhanh trước khi có những vụ vỡ nợ lớn ảnh hưởng đến cả hệ thống.

    Rõ ràng việc để LS VND thấp như hiện nay đang xóa đi hầu như tất cả nỗ lực 8 tháng qua của NHNN: tỷ giá tăng mạnh, lạm phát sẽ tăng (do tỷ giá), niềm tin người dân vào VND giảm…Nhưng NHNN cũng chẳng còn lựa chọn nào khác!

    • Nguyen Manh Hai Says:

      Mình nghĩ là NHNN sắp ra một loạt chính sách đồng bộ, thậm chí kết hợp cả hành chính hóa để quản lý tỷ giá, tiền tệ🙂 Nói chung là mình rất tin tưởng vào đội ngũ NHNN hiện giờ!

  10. Đ. Hải Says:

    Nếu thế để e đoán mò chút:
    Để quản lý chặt tỷ gía: quản lý thị trường vàng(đang làm), siết chặt thị trường USD tự do.
    Để cứu DN đang chết dần chết mòn do lãi suất cao, do lỗ biến động tỷ giá…: Hỗ trợ lãi suất nhắm vào 1 số đối tượng DN tạo ra sản phẩm, hoặc áp trần LS cho vay với nhóm DN này… nói chung phải hướng dòng tín dụng vào nhóm này để cứu nền KT cũng như giúp giảm LP về lâu dài.
    Khoanh vùng nợ xấu và hỗ trợ các NHTM gặp vấn đề khi cần thiết: vấn đề này chưa nghĩ ra ^ ^

    Tuy nhiên CS của NHNN đang có 1 điểm rủi ro: ép giảm LS huy động ==> khó nắn dòng tiền quay vào NH, tiền mặt ngoài hệ thống NH tăng sẽ gây 1 loạt bất ổn do không quản lý đc !

  11. Bùi Quỳnh Vân Says:

    Em nghĩ rằng nhiều khả năng NHNN đang lựa chọn áp dụng chính sách tiền tệ
    + kiểm soát chặt đối với VND (áp trần, kiểm tra),
    + nhưng sẽ kiểm soát theo hướng mở hơn với
    – tỷ giá : Từ giữa quý 3 đến nay, thị trường ngoại tệ tự do hầu như ko bị kiểm soát sau đợt càn quét hồi đầu năm, động thái công bố 1 loạt thông tin tích cực liên quan đến ngoại tệ ngày 5/10 vừa qua có lẽ là 1 bước thăm dò của NHNN, nếu thị trường ngoại tệ phản ứng tích cực, biện pháp càn quét thị trường tự do có thể chưa cần đến và ngược lại.
    – vàng: cũng nới lỏng hơn khi cho phép NH bán ra để tăng cung (trước đó thì cấm cả huy động và cho vay vàng) với hy vọng thị trường có thể tự điều tiết theo quy luật “cung tăng giá giảm” của nó.
    Tuy nhiên, khi VN vẫn đang bị đô la, vàng hóa, chính sách mềm dẻo với tỷ giá và vàng liệu có thể sẽ ít hiệu quả hơn.

    • Nguyen Manh Hai Says:

      Đồng ý với bạn Vân là về NHNN đang thực hiện các gói chính sách gồm tiền tệ thì tăng cường kiểm soát cung tiền; tỷ giá và vàng thì tăng cường kiểm soát thậm chí hành chính để chống đầu cơ, lũng đoạn thị trường. Đối với vàng thì tạo cơ sở để liên thông thị trường trong nước và quốc tế sớm để tự điều tiết🙂

  12. Đ. Hải Says:

    Chứng Khoán ORS, CK Kim eng và 1 NH to đều có liên quan đến vụ vỡ nợ OTC hàng nghìn tỷ VND, nhưng không ai bị thiệt hại gì cả, khéo thật ^ ^: http://cafef.vn/20111007061337582CA36/vo-lo-vu-lua-dao-khung-tren-thi-truong-chung-khoan.chn

    Vụ “Tập đoàn Kenmark và món nợ 50 triệu USD” thì BIDV lq 30 tr (600 tỷ VND), SHB lq 15tr USD (300 tỷ), Habubank lq 8tr USD (160 tỷ VND), chả biết sẽ cơ cấu nợ ra sao? http://cafef.vn/20111007045512661CA36/them-shb-giai-trinh-vu-tap-doan-kenmark-va-mon-no-50-trieu-usd.chn

    Theo T.S Lê Xuân Nghĩa: tỷ lệ nợ xấu từ 2,16% cuối năm 2010 đã tăng lên mức 3,13% vào cuối tháng 6 năm 2011.Tổng nợ xấu 6 tháng đầu năm khoảng 75.000 tỷ đồng. Trong đó, nợ xấu nhóm 5 (nợ mất vốn) chiếm khoảng 47%. Con số này chắc đã tăng lên rất nhiều vào 30/9?

    Nhìn chung, tỷ lệ nợ xấu của các NH đang tăng rất nhanh (đó là lý do vì sao phải giảm LS thay vì thắt chặt, và vì sao phải xúc tiến nhanh M&A hệ thống NH ^ ^), các NH lo giữ tiền gửi để cân đối với các khoản nợ quá hạn đang tăng nhanh (mà Huy động thì lại đang giảm mạnh), thế thì chả hơi đâu mà cho vay ra cả ! Chim sợ cành cong, cho vay ra nhỡ tăng thêm nợ xấu thì sao?
    Chưa kể, lãi suất phạt quá hạn là 150% lãi suất cho vay (cỡ hơn 30% !), do đó, đòi nợ và lãi về được ưu tiên hơn hẳn việc cho vay mới ==> không kỳ vọng tín dụng cuối năm tăng –> tiếp tục thu hẹp SX, tiếp tục nhiều DN vỡ nợ==> tiếp tục nợ xấu NH tăng!

    Bài toán nợ xấu trong hệ thống NH giờ không dễ giải quyết vì quy mô của nó đang tăng rất nhanh, tên tuổi các ông lớn trong hệ thống NH dính cũng không ít, lửa cháy khắp nơi thì k dễ gì khoanh vùng mà dập được ! Cũng không đơn giản là NHNN muốn là sẽ xử lý được, dù đội ngũ Lãnh đạo mới gần đây quả rất quyết tâm. Tình hình đáng thận trọng hơn nhiều người nghĩ !

    Cảm giác như đang dọn đường cho hoạt động M&A ^ ^

    • Võ Văn Minh Says:

      Cảm ơn bạn Hải đã chia sẻ những ý kiến rất chí lý. Có lẽ giai đoạn này là giai đoạn trước bão của tất cả mọi người, đặc biệt trong giới tài chính. Dòng tiền đang chậm lại một cách đáng sợ. Trước đây tài sản cứ tăng do dòng tiền được luân chuyển liên tục từ người nọ người kia, cá nhân tổ chức, tổ chức tổ chức. Khi gặp sự cố, mọi người cố thu vén cho mình, có đồng nào chạy qua mình là cứ phải giữ lấy phòng thân rồi tính tiếp. Thế nên thanh cản nó mới khô kiệt, và các vấn đề nó mới lộ ra, với tốc độ ngày càng nhanh hơn. Các Bank giờ mới thấm thía trái đắng của nền kinh tế, điều mà cả nền kinh tế đã chịu đựng được gần 1 năm rồi. Cứ quan niệm, nằm giữa không mất phần chăn, ở giữa người gửi người nhận để ăn phí chênh lệch nó đơn giản quá. Nhưng có lẽ thị trường nó đang phản ánh đúng quy luật của nó, quy luật đào thải. 47k doanh nghiệp phá sản, và rất nhiều DN ngắc ngoải từ đầu năm tới này, nhưng chưa thấy bank nào phá sản, co lại cả. Cả nền kinh tế đang có một cái nhìn thiếu thiện cảm về phía bank. Tại sao tất cả mọi người khó khăn mà mỗi ông vẫn ăn nên làm ra, vẫn mở rộng chi nhánh phòng giao dịch, vẫn tuyển ầm ầm. Lương của các ông là mơ ước của đại bộ phận các doanh nghiệp khác…

  13. Đ. Hải Says:

    Nghi án đồng nghiệp ‘tố’ HDBank vượt trần lãi suất
    http://www.baomoi.com/Home/TaiChinh/vnexpress.net/Nghi-an-dong-nghiep-to-HDBank-vuot-tran-lai-suat/7129744.epi

    Thông tin làm bằng chứng cho việc vượt trần lãi suất của HD Bank là băng ghi âm cuộc nói chuyện giữa khách hàng và nhân viên nhà băng. Người gửi tiền là chuyên viên quan hệ khách hàng của ngân hàng bạn. ^ ^


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: